Trong khi hầu hết các đồng nghiệp của ông không nhìn thấy khả năng tăng lãi suất cho đến ít nhất là năm 2023, Bostic lại cho rằng các biện pháp khẩn cấp mà Fed đã thực hiện để hạn chế tác động từ đại dịch có thể bắt đầu được rút bớt trong vòng hai năm tới, nếu không muốn nói là có thể sớm hơn nữa.
“Tôi nghĩ rằng có khả năng nền kinh tế có thể phục hồi trở lại mạnh mẽ hơn so với dự đoán”, ông nói trong một phiên hỏi đáp trực tuyến của Atlanta Rotary Club. “Nếu thực tế đó diễn ra, tôi sẵn sàng ủng hộ việc rút bớt và điều chỉnh lại chính sách hỗ trợ, và sau đó xem xét việc thay đổi lãi suất chính sách”.
“Nhưng, tôi không nhìn thấy khả năng điều đó sẽ xảy ra trong năm 2021 này. Có rất nhiều điều sẽ cần phải diễn ra để đến được với viễn cảnh đó”, ông nói thêm. “Có lẽ là vào năm 2022, nửa sau của năm 2022, hoặc thậm chí là năm 2023, điều đó mới hiện thực”.
Tại cuộc họp vào tháng 12, các thành viên của Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC) đã đưa ra dự báo của cá nhân họ cho các năm tới. Kỳ vọng trung bình đối với lãi suất cho vay chuẩn của Fed vẫn là duy trì trong phạm vi mục tiêu hiện tại 0% đến 0,25% cho đến năm 2023, với dự đoán dài hạn hơn là 2,5%.
Trong số 17 thành viên FOMC đã đệ trình các mục tiêu chính sách từ nền tảng dự báo của họ, không có thành viên nào đưa ra khả năng tăng lãi suất vào năm 2021, và chỉ một thành viên cho rằng lãi suất nên tăng trong năm 2022. Với năm tiếp theo, ba thành viên đề xuất lãi suất chính sách tăng 25 điểm cơ bản, trong khi chỉ một người đề xuất mức tăng cao hơn con số trên 50 điểm cơ bản và một người đề xuất mức tăng 100 điểm cơ bản qua bốn lần tăng.
Phần lớn các quan chức Fed tỏ ra thận trọng với nhận định về triển vọng kinh tế, riêng Bostic lưu ý rằng tăng trưởng gần như phụ thuộc hoàn toàn vào tốc độ triển khai tiêm chủng và khả năng kiểm soát dịch bệnh.
“Mức độ suy giảm kinh tế phụ thuộc hoàn toàn vào cách chúng ta ứng phó với cuộc khủng hoảng sức khỏe cộng đồng hiện nay”, ông nói. “Việc dự báo triển vọng kinh tế trong năm nay chính là dự báo về mức độ phổ cập vắc-xin đến người dân, vì vậy chúng ta đang ở thời điểm không còn phải quá thận trọng khi dự báo về các hoạt động kinh tế của mình”.
Bostic cho biết ông sẽ xem xét ba dữ liệu để định hướng cho nhận định của mình về thời điểm Fed có thể bắt đầu rút lại các chính sách áp dụng trong thời kỳ khủng hoảng. Ngoài lãi suất gần bằng 0, Fed đã mở rộng bảng cân đối của mình thêm hơn 3 nghìn tỷ USD, thực hiện một loạt các chương trình cho vay và tăng thanh khoản. Một số chương trình trong số đó đã chấm dứt vào cuối năm 2020.
Ba dữ liệu Bostic nói đến bao gồm: mất việc làm tạm thời và vĩnh viễn; sức khỏe của các doanh nghiệp nhỏ; và lòng tin của người tiêu dùng. Tuy nhiên, trên tất cả là diễn biến của dịch bệnh và mức độ thành công của những nỗ lực kiểm soát nó.
Theo Thoibaonganhang
“Chuyện quái gì đang xảy ra?”: Vàng cắm đầu rơi thẳng về 4.000 USD bất chấp USD suy yếu!
09:20 AM 23/10
Giá xăng dầu hôm nay 22/10/2026: Xăng E10 giảm mạnh hơn 1.800 đồng/lít, giá dầu đi ngược chiều
03:50 PM 22/10
Giá USD ngày 22/10: Tỷ giá ngân hàng quay đầu giảm nhẹ
10:25 AM 22/10
Tin sáng 22/10: Phố Wall tiếp đà tăng mạnh – Vàng hồi phục cầm chừng khi USD ngừng tăng, Dầu ổn định
09:25 AM 22/10
Điểm tin ngày 21/10: Loạt “ông lớn” ngân hàng trung ương lên tiếng, Vàng tối nay đi theo hướng nào?
03:05 PM 21/10
Cuộc đổi ngôi thế kỷ: Bí mật đằng sau con số 700 tỷ USD khiến giới buôn vàng toàn cầu phát sốt
01:50 PM 21/10
Báo động đỏ thị trường vàng: Phe gấu dồn lực đục thủng mốc $4.100, nguy cơ lao dốc không phanh?
01:35 PM 21/10
Bitcoin tham vọng trở thành kẻ thách thức với vàng
03:08 PM 12/01
TT vàng 12/1: Hồi phục tốt, giá lên vùng 1860$
02:58 PM 12/01
Vàng trong nước đang bỏ xa giá vàng thế giới
11:53 AM 12/01
Tỷ giá VND/USD 12/1: Tỷ giá trung tâm tăng mạnh
10:23 AM 12/01
Đảng Dân chủ trình nghị quyết luận tội Trump
09:58 AM 12/01
| Mua vào | Bán ra | |
|---|---|---|
USD chợ đen |
26,000 0 | 26,080 30 |
Giá đô hôm nay |
||
| Mua vào | Bán ra | |
|---|---|---|
| Vàng SJC | 139,000-300 | 142,000-300 |
| Vàng nhẫn | 139,000-300 | 142,030-300 |
Tỷ giá hôm nay |
||
|---|---|---|
| Ngoại Tệ | Mua vào | Bán Ra |
USD |
25,610-20 | 26,020-20 |
AUD |
17,6681 | 18,4192 |
CAD |
17,968-2 | 18,731-2 |
JPY |
1580 | 1690 |
EUR |
28,219-40 | 29,708-42 |
CHF |
30,626-87 | 31,927-91 |
GBP |
33,701-29 | 35,132-30 |
CNY |
3,773-3 | 3,933-3 |