Các nhà đầu tư dường như chuyển sang trạng thái thận trọng vào đầu ngày thứ Sáu sau khi ngoại trưởng Nga và Ukraine không đạt được tiến bộ về lệnh ngừng bắn.
Cuối ngày hôm nay, Chỉ số Tâm lý Người tiêu dùng sơ bộ của Đại học Michigan cho tháng 3 sẽ là dữ liệu kinh tế Mỹ có tầm ảnh hưởng duy nhất. Nhà đầu tư cũng theo dõi số liệu việc làm của Canada.
Sau cuộc gặp với người đồng cấp Ukraine Dmytro Kuleba, Ngoại trưởng Nga Sergey Lavrov nói rằng họ đã trình bày các điều kiện của Nga để chấm dứt xung đột và nhắc lại rằng họ muốn Ukraine trung lập. Đáp lại, phía Ukrainre nói: “Chúng tôi không thể ngừng chiến tranh nếu quốc gia bắt đầu cuộc xâm lược không có mong muốn làm như vậy”, theo Kuleba. Trong khi đó, Bộ trưởng Quốc phòng Anh cho biết hôm thứ Sáu rằng Nga có khả năng sẽ tái bố trí lực lượng của mình cho các hoạt động tấn công mới trong những ngày tới.
Chỉ số S&P 500 mất 0,43% vào thứ Năm và DXY tăng hơn 0,5%. Vào đầu phiên giao dịch châu Âu, chỉ số chứng khoán Mỹ tương lai đang đi ngang.
Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) hôm thứ Năm đã thông báo rằng họ giữ nguyên các mức lãi suất chủ chốt như dự kiến. Tuy nhiên có một sự bất ngờ là ngân hàng cho biết họ sẽ kết thúc Chương trình Mua tài sản (APP) vào quý III chứ không phải vào cuối năm như kế hoạch ban đầu. Phản ứng ban đầu đối với quyết định này đã tạo ra một sự thúc đẩy cho đồng tiền chung nhưng những bình luận thận trọng của Chủ tịch ECB Christine Lagarde về triển vọng kinh tế và lạm phát đã khiến đồng euro mất đi bước tiến đó.
Sau khi tăng lên mức cao hàng tuần trên 1.1100 vào thứ Năm, EUR/USD đã đà tăng và đóng cửa trong vùng tiêu cực. Cặp tiền này đang duy trì tương đối ổn định gần 1,1000 vào đầu ngày thứ Sáu. Dữ liệu từ Đức cho thấy CPI tháng 2 tăng 0,9% so với tháng trước và tăng 5,1% so với cùng kì năm ngoái.
GBP/USD chạm mức thấp nhất kể từ tháng 11 ở mức 1,3071 vào thứ Sáu trước khi phục hồi về ngưỡng 1,3100. Văn phòng Thống kê Quốc gia của Vương quốc Anh hôm thứ Sáu công bố rằng nền kinh tế Vương quốc Anh tăng 0,8% so với tháng trước và tăng 10% so với cùng kì năm ngoái, đều tốt hơn dự báo.
USD/CAD đã ghi nhận đà giảm trong 2 phiên vừa qua và giữ nguyên dưới mức 1,2800 vào đầu ngày thứ Sáu. Tỷ lệ thất nghiệp ở Canada dự kiến sẽ giảm xuống 6,2% vào tháng 2 từ mức 6,5% trong tháng 1.
Bất chấp tình trạng nhà đầu tư né tránh rủi ro, vàng đã không thể xác nhận động lực tăng giá vào thứ Năm và chịu áp lực giảm giá mới vào thứ Sáu. Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ tăng sau khi dữ liệu lạm phát nóng của Mỹ dường như đang đè nặng lên vàng (XAU/USD). Kim loại quý đang có xu hướng giảm và neo quanh 1992$ vào cuối tuần.

Bitcoin đã mất 6% vào thứ Năm và tiếp tục yếu đi vào đầu thứ Sáu. BTC/USD được thấy lần cuối cùng mất gần 1% hàng ngày ở mức 39.100USD. Ethereum kéo dài mức trượt xuống 2.500USD sau khi mất hơn 4% vào thứ Năm.
tygiausd.org
Vàng nhẫn phiên 10/3: Người dân xếp hàng chờ mua giấy – nhẫn trơn BTMC giá cao hơn cả vàng miếng
03:35 PM 10/03
Tỷ giá USD/VND ngày 10/3: Các NH nâng giá bán ra kịch trần nhưng lại giảm giá mua vào
11:15 AM 10/03
Tin sáng 10/3: Phố Wall đảo chiều ngoạn mục, Dầu thô rời đỉnh sau khi Tổng thống Trump phát tín hiệu xung đột sắp kết thúc
08:45 AM 10/03
Giá vàng miếng ngày 9/3: Mở cửa giảm 2,5 triệu rồi hồi phục nhẹ – Diễn biến rất khó lường
12:45 PM 09/03
Tỷ giá USD/VND ngày 9/3: DXY cao nhất 3 tháng – các NH tăng giá mua nhiều hơn giá bán
12:15 PM 09/03
Góc nhìn Giá Vàng: Ông Powell đau đầu, nhăn trán sau tin NFP và cú tăng dựng đứng của giá dầu
04:55 PM 07/03
“Tôi chưa bao giờ thấy loại biến động này” của thị trường vàng; Gary Wagner kì vọng thị trường sẽ còn kịch tính hơn nữa
12:53 PM 11/03
Giá vàng sẽ lên hơn 100 triệu đồng/lượng?
12:18 PM 11/03
Bất ổn trong quản lý giá vàng: Bao giờ hết cảnh bong bóng?
05:08 PM 10/03
| Mua vào | Bán ra | |
|---|---|---|
USD chợ đen |
27,150 300 | 27,200 300 |
Giá đô hôm nay |
||
| Mua vào | Bán ra | |
|---|---|---|
| Vàng SJC | 183,100 | 186,100 |
| Vàng nhẫn | 183,100 | 186,130 |
Tỷ giá hôm nay |
||
|---|---|---|
| Ngoại Tệ | Mua vào | Bán Ra |
USD |
25,0840 | 25,4540 |
AUD |
16,2380 | 16,9280 |
CAD |
17,7270 | 18,4810 |
JPY |
1600 | 1700 |
EUR |
26,8480 | 28,3200 |
CHF |
28,5820 | 29,7970 |
GBP |
31,8310 | 33,1840 |
CNY |
3,4670 | 3,6140 |