Tính đến 9h30, VN-Index giảm 1,01 điểm (0,1%) xuống 976,26 điểm; HNX-Index tăng 0,08% lên 102,4 điểm; UPCoM-Index tăng 0,1% lên 58,03 điểm.
Blue-chips khá yếu, hiện có VHM là giảm đáng kể 1,27% khiến các chỉ số bị ảnh hưởng nhiều nhất. VN30-Index bị ảnh hưởng nhiều hơn từ các cổ phiếu HPG giảm 1,12%, MBB giảm 0,64%, REE giảm 1,37%, SSI giảm 1,17%, TCB giảm 0,93%, VPB giảm 0,74%, VRE giảm 1,15%, BVH giảm 1,55%.
Số tăng giá vẫn có 3 trụ: VNM tăng 1,34%, SAB tăng 0,74% và GAS tăng 1% trong ngày điều chỉnh kỹ thuật.
Với cơ cấu blue-chips tăng giảm như vậy, thị trường đã mất đi nhóm dẫn dắt và sự phân hóa trong VN30 cũng không nổi bật xu hướng của các nhóm. Giao dịch dồn vào nhóm cổ phiếu vừa và nhỏ và cũng chỉ bó hẹp lại ở số ít mã. Nhóm tăng trên 2% chỉ có VOS, DRH, KDC, TLD, KBC, DVP, LCG, ITA, DGW là thanh khoản tốt. Midcap là chỉ số duy nhất đang tăng 0,31%.
Nhóm cổ phiếu khu công nghiệp và logistic sôi động trở lại sáng nay là điểm nhấn tốt. KBC, ITA, GMD, DVP, GMD… bật tăng mạnh. KBC gây ấn tượng nhất nhờ thu hút được dòng tiền lớn. Thanh khoản của mã này đứng thứ hai thị trường sau ROS, với gần 3,7 triệu cổ phiếu tương đương 58,9 tỷ đồng khớp lệnh. KBC tăng 4,19% và giá một lần nữa quay lại đỉnh cao 26 tháng vốn đã một lần chạm tới vào đầu tháng 8.
Sàn HNX giao dịch rất trì trệ do thanh khoản quá kém. Tuy nhiên SHB lại tăng 1,59%, PVI tăng 0,85% giúp các chỉ số tăng dù độ rộng rất tệ: HXN30 tăng 0,25% với 6 mã tăng/13 mã giảm. HNX-Index tăng 0,07% với 42 mã tăng/56 mã giảm.
Giao dịch trên thị trường đâu đó vẫn có một số mã sôi động mà cảng biển là ví dụ. Tuy nhiên tổng thể thị trường sáng nay kém cả về độ rộng lẫn thanh khoản. Bản thân thanh khoản ở nhóm tăng cũng chỉ có KBC là lớn. Mặt khác tổng thanh khoản của thị trường đã không có cải thiện nào rõ rệt, mức khớp chỉ đạt 1.281,7 tỷ đồng, tăng 4% so với sáng hôm qua. HNX thậm chí chỉ có 2 mã khớp trên 10 tỷ đồng là PVS và VCR.
Khối ngoại tiếp tục giao dịch cân bằng và bán ròng không đáng kể. HSX được giải ngân 141,6 tỷ đồng, bán ra 149,3 tỷ đồng. VN30 mua 106 tỷ đồng, bán 94,2 tỷ đồng. HNX mua 2,2 tỷ, bán 3,2 tỷ đồng. Số ít cổ phiếu được mua ròng nổi hơn các mã khác là VNM, KDC, NVL, PVD. Phía bán ròng có HDB, VOS, VRE, HPG, DXG, SSI.
Tạm dừng phiên sáng, VN-Index giảm 2,67 điểm (0,27%) xuống 974,59 điểm; HNX-Index tăng 0,07% lên 102,39 điểm; trong khi UPCoM-Index tạm dừng tại tham chiếu.
Tổng hợp
Đang tải...
Tỷ giá USD/VND ngày 6/11: Giá USD tại các NH tiếp tục giảm, DXY hồi phục sau đợt giảm mạnh
10:15 AM 06/11
World Bank vạch trần tương lai kim loại quý: Một bên bất khả xâm phạm, một bên sắp lao dốc
10:00 AM 06/11
Giá vàng hôm nay 06/11: SJC và vàng nhẫn 9999 tiếp tục rơi mạnh – Vàng ngoại rơi 50USD từ đỉnh 2 tuần
09:50 AM 06/11
PTKT: Vàng (XAU/USD) phá ngưỡng EMA 20 thành công: Phe bò hướng tới thử thách cụm kháng cự SMA 50 – SMA 100
02:50 PM 05/11
Nonfarm Payrolls tháng 10: Liệu việc làm Mỹ có hồi phục? Vàng, USD và chứng khoán trước giờ G
02:30 PM 05/11
Trung Quốc gom gần 700 tấn vàng: Nghịch lý vàng nhẫn, vàng thỏi sốt ảo còn trang sức lao dốc
02:10 PM 04/11
Chiều 4/11: Vàng ngoại tăng dựng đứng, vượt mốc $4000 – SJC tăng tiếp lên 142,4 triệu
01:55 PM 04/11
Tỷ giá USD/VND hôm nay (4/11): Đô la Mỹ rơi xuống đáy 5 tuần, ngân hàng và chợ đen đồng loạt hạ nhiệt
10:20 AM 04/11
Vàng SJC áp sát 43 triệu đồng/lượng, vàng thế giới giảm nhẹ
11:48 AM 29/08
Tỷ giá trung tâm tăng 4 đồng, giá USD tăng nhẹ
10:16 AM 29/08
TTCK: “Có thể giảm điểm trở lại”
08:32 AM 29/08
Vàng có thể đạt $2000 khi chứng khoán lao dốc – Citigroup
08:01 AM 29/08
Giá vàng ngắn hạn: Tích lũy để “nổi sóng”
07:14 AM 29/08
Nhà đầu tư nên chọn lướt sóng?
04:50 PM 28/08
Cảnh báo nguy cơ khủng hoảng kinh tế Mỹ
04:02 PM 28/08
| Mua vào | Bán ra | |
|---|---|---|
USD chợ đen |
26,070 40 | 26,130 50 |
Giá đô hôm nay |
||
| Mua vào | Bán ra | |
|---|---|---|
| Vàng SJC | 138,000-1,500 | 141,000-1,500 |
| Vàng nhẫn | 138,000-1,500 | 141,030-1,500 |
Tỷ giá hôm nay |
||
|---|---|---|
| Ngoại Tệ | Mua vào | Bán Ra |
USD |
25,370-20 | 25,780-20 |
AUD |
17,227-263 | 17,959-274 |
CAD |
17,776-116 | 18,532-121 |
JPY |
1560 | 1670 |
EUR |
27,944-107 | 29,419-112 |
CHF |
30,549-31 | 31,847-33 |
GBP |
33,507-111 | 34,931-116 |
CNY |
3,740-3 | 3,899-3 |