9h35, VN-Index giảm nhẹ 0,07 điểm xuống 1.504,93 điểm. HNX-Index tăng 1,39 điểm (0,31%) lên 450,7 điểm. UPCoM-Index tăng 0,42 điểm (0,37%) lên 113,61 điểm.
Thị trường chứng khoán mở cửa phiên giao dịch ngày 4/3 tiếp tục với những diễn biến tích cực, khi các chỉ số đều được kéo lên trên mốc tham chiếu. Tuy nhiên, áp lực bán ở nhiều cổ phiếu lớn xuất hiện và điều này khiến VN-Index đảo chiều.
Nhóm cổ phiếu dầu khí có sự điều chỉnh đáng kể trở lại trong đó, PVS giảm 2,4%, PVD giảm 1,4%, PLX giảm 1,3%… Bên cạnh đó, các cổ phiếu lớn như VJC, GVR, SAB… cũng chìm trong sắc đỏ và gây áp lực đáng kể lên thị trường chung.
Ở chiều ngược lại, nhóm chứng khoán có biến động tích cực trong đó, SSI tăng 3,3%, MBS tăng 2,9%, SBS tăng 4%…Cùng với đó, các cổ phiếu lớn như VPB, HVN, HPG… cũng giữ được đà tăng tốt.
11h00, VN-Index giảm 1,46 điểm (0,1%) còn 1.503,54 điểm. VN30-Index tăng 0,15 điểm (0,01%) lên 1.522,64 điểm.
Thị trường tiếp tục biến động trong biên hẹp đến giữa phiên sáng. Nhóm bất động sản, dầu khí đang ảnh hưởng tiêu cực lên thị trường với mức ảnh hưởng giảm lần lượt là 1,6 và 1,3 điểm. Trong khi đó, cổ phiếu nhóm chứng khoán, ngân hàng, xây dựng đang là điểm đên của dòng tiền với nhiều mã tăng giá.
Thị trường chứng khoán tiếp tục diễn biến giằng co đến cuối phiên sáng, dù vậy các chỉ số vẫn đóng cửa trong sắc xanh. Độ rộng thị trường phân hóa với 252 mã tăng giá, 203 mã giảm giá và 44 mã đứng giá tham chiếu.
Nhóm VN30 là động lực tăng điểm trong suốt cả phiên với các bluechips giao dịch khởi sắc như SSI, VPB, TCB, MSN, PNJ, STB,…
Theo quan sát, cổ phiếu VPB dẫn đầu khối lượng khớp lệnh toàn thị trường với hơn 38 triệu đơn vị, tương đương giá trị giao dịch đạt gần 380 tỷ đồng. Đây cũng là mã tác động tích cực nhất lên VN-Index với hơn 1,1 điểm. Chiều ngược lại, sắc đỏ của VIC, GAS, VCB, GVR, VJC,… đang làm khó tiến trình đi lên của chỉ số.
Trong khi nhóm chứng khoán đồng loạt tăng điểm trong phiên sáng nay thì sự phân hóa tiếp tục diễn ra tại các nhóm cổ phiếu ngân hàng, dầu khí, công nghệ, cao su, thủy sản, bất động sản khu công nghiệp, dệt may.
Thanh khoản thị trường duy trì ở mức cao với tổng giá trị khớp lệnh đạt 20.600 tỷ đồng, tăng 7,05% so với phiên sáng hôm qua, trong đó, tổng giá trị khớp lệnh sàn HoSE tăng 5,7% và đạt 17.068 tỷ đồng. Khối ngoại mua ròng gần 700 tỷ đồng và tập trung mạnh thỏa thuận cổ phiếu VPB.
Tạm dừng phiên sáng, VN-Index tăng 0,85 điểm (0,06%) lên 1.505,85 điểm. HNX-Index tăng 1,84 điểm (0,41%) đạt 451,15 điểm. UPCoM-Index tăng 0,11 điểm (0,1%) lên 113,3 điểm.
tygiausd.org
“Chuyện quái gì đang xảy ra?”: Vàng cắm đầu rơi thẳng về 4.000 USD bất chấp USD suy yếu!
09:20 AM 23/10
Giá xăng dầu hôm nay 22/10/2026: Xăng E10 giảm mạnh hơn 1.800 đồng/lít, giá dầu đi ngược chiều
03:50 PM 22/10
Giá USD ngày 22/10: Tỷ giá ngân hàng quay đầu giảm nhẹ
10:25 AM 22/10
Tin sáng 22/10: Phố Wall tiếp đà tăng mạnh – Vàng hồi phục cầm chừng khi USD ngừng tăng, Dầu ổn định
09:25 AM 22/10
Điểm tin ngày 21/10: Loạt “ông lớn” ngân hàng trung ương lên tiếng, Vàng tối nay đi theo hướng nào?
03:05 PM 21/10
Cuộc đổi ngôi thế kỷ: Bí mật đằng sau con số 700 tỷ USD khiến giới buôn vàng toàn cầu phát sốt
01:50 PM 21/10
Báo động đỏ thị trường vàng: Phe gấu dồn lực đục thủng mốc $4.100, nguy cơ lao dốc không phanh?
01:35 PM 21/10
Cùng nhịp tăng với giá vàng thế giới, SJC duy trì mức chênh lệch ở sát ngưỡng 14 triệu đồng/lượng
11:53 AM 04/03
Vàng Nhẫn 9999: Khởi sắc trở lại với nhịp tăng khiêm tốn, tín hiệu tích cực để vươn lên mục tiêu mới
10:28 AM 04/03
Áp lực thanh lý cùng nhiều nguyên nhân đẩy giá cà phê tiếp tục giảm sâu trên cả hai sàn giao dịch thế giới
09:43 AM 04/03
Nhận định CK phái sinh phiên 4/3: Có nhịp tăng ngắn hạn và kiểm tra lại vùng cản 1.540 điểm
08:13 AM 04/03
Nhận định TTCK phiên 4/3: VN-Index sẽ có nhịp tăng ngắn hạn
08:03 AM 04/03
| Mua vào | Bán ra | |
|---|---|---|
USD chợ đen |
26,000 0 | 26,080 30 |
Giá đô hôm nay |
||
| Mua vào | Bán ra | |
|---|---|---|
| Vàng SJC | 139,000-300 | 142,000-300 |
| Vàng nhẫn | 139,000-300 | 142,030-300 |
Tỷ giá hôm nay |
||
|---|---|---|
| Ngoại Tệ | Mua vào | Bán Ra |
USD |
25,610-20 | 26,020-20 |
AUD |
17,6681 | 18,4192 |
CAD |
17,968-2 | 18,731-2 |
JPY |
1580 | 1690 |
EUR |
28,219-40 | 29,708-42 |
CHF |
30,626-87 | 31,927-91 |
GBP |
33,701-29 | 35,132-30 |
CNY |
3,773-3 | 3,933-3 |