Năm 2018 được coi là một năm tồi tệ đối với giá vàng khi giảm mạnh từ mức 1.365USD/oz vào tháng 1/2018 xuống mức 1.160USD/oz vào tháng 8/2018.
Sở dĩ giá vàng giảm mạnh là do Tổng thống Mỹ Donald Trump tăng cường thực hiện các chính sách bảo hộ thương mại đối với các đối tác, đồng thời phát động cuộc chiến tranh thương mại với Trung Quốc. Không chỉ vậy, Chính quyền Trump còn thực hiện chính sách kích thích tài khóa, hút mạnh dòng vốn đầu tư của các doanh nghiệp Mỹ ở nước ngoài và dòng vốn nước ngoài vào Mỹ. Trong khi đó, FED tăng tới 4 lần lãi suất cơ bản trong năm 2018, khiến chênh lệch lãi suất ở Mỹ và các nền kinh tế phát triển ngày càng lớn. Tất cả những điều này đã không ngừng đẩy USD tăng mạnh, có thời điểm USD index tăng lên tới mức 97,4 điểm.
Trong khi đó, nhu cầu vàng vật chất luôn ở mức thấp do chiến tranh thương mại Mỹ- Trung làm cho kinh tế Trung Quốc suy giảm mạnh. Còn nhu cầu vàng ở Ấn Độ cũng không khả quan hơn khi giảm 10% xuống 147,4 tấn quý 3, sau khi giảm trong quý 1 và 2/2018.
Tại thị trường vàng Việt Nam, nhu cầu vàng luôn ở mức thấp. Điều đó đã khiến giá vàng miếng SJC giảm khá mạnh từ mức 36,80- 37,63 triệu đồng/lượng xuống tới mức 36,20- 36,32 triệu đồng/lượng trong năm 2018.
Trong những phiên giao dịch cuối năm 2018, giá vàng đã có những diễn biến tích cực khi phục hồi dần lên 1.275USD/oz và có thể sẽ tiếp tục tăng trong đầu năm 2019. Giá vàng tăng trở lại là do:
Thứ nhất, kinh tế Mỹ đang có xu hướng tăng trưởng chậm lại khi GDP quý 3 chỉ đạt 3,4%, so với mức 4,2% quý 2/2018, và dự báo sẽ chỉ đạt khoảng 2,3%, hoặc thấp hơn trong năm 2019. Thậm chí, nhiều chuyên gia dự báo kinh tế Mỹ sẽ bị suy thoái vào cuối năm 2019 và khủng hoảng vào năm 2020. Điều này buộc FED có thể chỉ tăng lãi suất thêm 1-2 lần và sớm chấm dứt chu kỳ thắt chặt chính sách tiền tệ.
Thứ hai, bất ổn địa chính trị vẫn không ngừng leo thang ở nhiều nơi, trong đó đáng lưu ý là Brexit, khủng hoảng tài chính Italy, bất ổn chính trị ở Trung Đông… Theo Capital Economics, những bất ổn này sẽ khiến số vàng nắm giữ của các quỹ đầu tư quốc tế sẽ tăng lên trên 80 triệu ounces vàng trong năm 2019.
Thứ ba, trước bối cảnh USD đang có nguy cơ giảm mạnh do kinh tế Mỹ suy thoái, các NHTW sẽ tăng cường mua vàng để tái cơ cấu quỹ dự trữ ngoại hối, nhất là các NHTW Nga, Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ.
Thứ tư, điều kiện khai thác vàng ở Nam Phi và nhiều quốc gia khác ngày càng trở nên khó khăn hơn, khiến nguồn cung vàng sẽ sụt giảm.
Trong báo cáo công bố mới đây, Ngân hàng ANZ nhận định giá vàng bình quân quý 1/2019 ở mức 1.255USD/oz, quý 2 là 1.275USD/oz, quý 3 là 1.285USD/oz và quý 4 là 1.300USD/oz.
Theo Enternews
Vàng và USD tiếp tục “nín thở” trước ông Trump và Fed: Chuyên gia hé lộ kịch bản bất ngờ
09:45 AM 07/11
Tỷ giá USD/VND ngày 6/11: Giá USD tại các NH tiếp tục giảm, DXY hồi phục sau đợt giảm mạnh
10:15 AM 06/11
World Bank vạch trần tương lai kim loại quý: Một bên bất khả xâm phạm, một bên sắp lao dốc
10:00 AM 06/11
Giá vàng hôm nay 06/11: SJC và vàng nhẫn 9999 tiếp tục rơi mạnh – Vàng ngoại rơi 50USD từ đỉnh 2 tuần
09:50 AM 06/11
PTKT: Vàng (XAU/USD) phá ngưỡng EMA 20 thành công: Phe bò hướng tới thử thách cụm kháng cự SMA 50 – SMA 100
02:50 PM 05/11
Nonfarm Payrolls tháng 10: Liệu việc làm Mỹ có hồi phục? Vàng, USD và chứng khoán trước giờ G
02:30 PM 05/11
Trung Quốc gom gần 700 tấn vàng: Nghịch lý vàng nhẫn, vàng thỏi sốt ảo còn trang sức lao dốc
02:10 PM 04/11
Chiều 4/11: Vàng ngoại tăng dựng đứng, vượt mốc $4000 – SJC tăng tiếp lên 142,4 triệu
01:55 PM 04/11
TTCK: “Nhiều khả năng sẽ điều chỉnh về 880”
08:12 AM 03/01
Bí quyết tư duy của người thành công: Đặt câu hỏi đúng
03:51 PM 02/01
DailyForex: Dự báo giá vàng tuần 31/12 – 4/1
03:14 PM 02/01
Châu Âu chuẩn bị dừng phát hành tờ 500 Euro
03:08 PM 02/01
Năm 2019, giá vàng có thể tăng lên 42 triệu đồng/lượng?
12:15 PM 02/01
| Mua vào | Bán ra | |
|---|---|---|
USD chợ đen |
25,900 40 | 25,950 40 |
Giá đô hôm nay |
||
| Mua vào | Bán ra | |
|---|---|---|
| Vàng SJC | 138,000 | 141,000 |
| Vàng nhẫn | 138,000 | 141,030 |
Tỷ giá hôm nay |
||
|---|---|---|
| Ngoại Tệ | Mua vào | Bán Ra |
USD |
25,3700 | 25,7800 |
AUD |
17,1450 | 17,8740 |
CAD |
17,7220 | 18,4750 |
JPY |
1560 | 1660 |
EUR |
27,8620 | 29,3320 |
CHF |
30,4930 | 31,7890 |
GBP |
33,3850 | 34,8040 |
CNY |
3,7390 | 3,8970 |