Cụ thể, quý đầu năm nay, GDP của New Zealand giảm 0,1%, sau khi giảm 0,7% vào quý cuối năm ngoái – theo số liệu thống kê chính thức công bố ngày 15/6. So với quý đầu năm 2022, GDP của nước này tăng 2,2%, thấp hơn so với mức dự báo trung bình 2,6% của các nhà phân tích.
Tăng trưởng kinh tế New Zealand giảm mạnh sau khi ngân hàng trung ương nước này tăng lãi suất với tốc độ kỷ lục để kiểm soát lạm phát. Động thái này diễn ra trong bối cảnh các hoạt động kinh tế trong quý I bị ảnh hưởng nặng nề bởi bão trong tháng 2.
Với hai quý tăng trưởng âm, đất nước này hiện trong thời kỳ suy thoái kỹ thuật. Đồng đô la New Zealand (NZD) đã giảm 0,23% so với đô la Mỹ sau khi dữ liệu được công bố. Cổ phiếu ít biến động. Chỉ số S&P/NZX 50 tăng 0,144%.
Trước khi số liệu GDP quý đầu tiên được công bố, Ngân hàng Trung ương New Zealand đã dự báo đất nước sẽ bước vào suy thoái vào quý II năm 2023, trong khi dự báo cập nhật vào tháng 5 của Bộ Tài chính kỳ vọng nước này sẽ tránh được suy thoái.
Trong 20 tháng qua, RBNZ đã tăng lãi suất thêm 5,25 điểm phần trăm lên 5,5% và nền kinh tế vẫn chưa chịu tác động đầy đủ của việc này bởi nhiều hộ gia đình vẫn chưa phải chuyển sang lãi suất thế chấp mua nhà cao hơn. Trong khi đó, tỷ lệ thất nghiệp 3,4% của New Zealand vẫn ở gần mức thấp kỷ lục. Hoạt động du lịch đang phục hồi nhanh hơn dự báo, trong khi dòng chảy nhập cư vào nước này đang tăng lên.
Cơ quan thống kê của New Zealand cho biết dịch vụ doanh nghiệp là nhân tố chính kéo GDP quý I đi xuống khi giảm tới 3,5%. Bên cạnh đó, các sự kiến thời tiết bất lợi trong quý I, bao gồm lũ lụt nhiêm trọng ở Auckland và bão Gabrielle, đã góp phần khiến các dịch vụ hỗ trợ làm vườn và vận chuyển suy giảm, đồng thời làm gián đoạn các dịch vụ giáo dục.
Trong quý, chi tiêu tiêu dùng của hộ gia đình tăng 2,4% do người dân New Zealand chi mạnh tay hơn cho các chuyến du lịch quốc tế. Nhưng ngược lại, các hộ gia đình lại chi tiêu ít hơn cho hàng hóa, đặc biệt là hàng thực phẩm, tạp hóa.
Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cho biết nền kinh tế của New Zealand đang trong giai đoạn suy thoái cần thiết do chính sách gây ra, sau quá trình phục hồi mạnh mẽ hậu đại dịch. Tuy nhiên, cơ quan này cảnh báo ngân hàng trung ương không nên chuyển sang các biện pháp nới lỏng tiền tệ. Họ vẫn nên để ngỏ khả năng tăng lãi suất nhiều hơn trong thời gian tới.
tygiausd.org
Tỷ giá USD/VND ngày 11/3: TGTT giảm 3 đồng xuống 25.059 – giá bán tại các NH giảm theo
02:00 PM 11/03
Vàng nhẫn phiên 10/3: Người dân xếp hàng chờ mua giấy – nhẫn trơn BTMC giá cao hơn cả vàng miếng
03:35 PM 10/03
Tỷ giá USD/VND ngày 10/3: Các NH nâng giá bán ra kịch trần nhưng lại giảm giá mua vào
11:15 AM 10/03
Tin sáng 10/3: Phố Wall đảo chiều ngoạn mục, Dầu thô rời đỉnh sau khi Tổng thống Trump phát tín hiệu xung đột sắp kết thúc
08:45 AM 10/03
Giá vàng miếng ngày 9/3: Mở cửa giảm 2,5 triệu rồi hồi phục nhẹ – Diễn biến rất khó lường
12:45 PM 09/03
Tỷ giá USD/VND ngày 9/3: DXY cao nhất 3 tháng – các NH tăng giá mua nhiều hơn giá bán
12:15 PM 09/03
Bảng giá vàng sáng 15/6: SJC đã không thể ” khoanh tay đứng nhìn” trước đà suy yếu của vàng thế giới
09:52 AM 15/06
Nhận định chứng khoán phái sinh phiên 15/6: Rủi ro điều chỉnh ngắn hạn có dấu hiệu gia tăng
08:22 AM 15/06
Lạm phát Mỹ chỉ còn 4%
03:37 PM 14/06
Bất động sản Trung Quốc: Mua nhà tặng vàng
03:22 PM 14/06
| Mua vào | Bán ra | |
|---|---|---|
USD chợ đen |
27,190 40 | 27,240 40 |
Giá đô hôm nay |
||
| Mua vào | Bán ra | |
|---|---|---|
| Vàng SJC | 184,2001,100 | 187,2001,100 |
| Vàng nhẫn | 184,2001,100 | 187,2301,100 |
Tỷ giá hôm nay |
||
|---|---|---|
| Ngoại Tệ | Mua vào | Bán Ra |
USD |
25,0840 | 25,4540 |
AUD |
16,2380 | 16,9280 |
CAD |
17,7270 | 18,4810 |
JPY |
1600 | 1700 |
EUR |
26,8480 | 28,3200 |
CHF |
28,5820 | 29,7970 |
GBP |
31,8310 | 33,1840 |
CNY |
3,4670 | 3,6140 |