Chi phí của các mặt hàng trong cửa hàng đã tăng với tỷ lệ hàng năm là 9% trong tháng 5, tăng từ mức 8,8% trong tháng 4/2023.
Đây là mức tăng nhanh nhất kể từ khi Hiệp hội Bán lẻ Anh (BRC) bắt đầu thống kê dữ liệu này từ năm 2005, dù lạm phát giá thực phẩm đã giảm nhẹ từ mức kỷ lục 15,7% trong tháng 4 xuống còn 15,4% trong tháng 5.
Giám đốc điều hành BRC Helen Dickinson cho biết, tuy lạm phát giá cả tại các cửa hàng tăng so với tháng trước, song lạm phát giá lương thực có xu hướng hạ nhiệt sẽ giúp người tiêu dùng giảm bớt gánh nặng.
Theo bà Dickinson, tốc độ tăng giá lương thực giảm chủ yếu là do chi phí năng lượng và hàng hóa trong toàn chuỗi cung ứng bắt đầu giảm, trong khi lạm phát giá ở một số mặt hàng chủ lực như bơ, sữa, trái cây và cá cũng đang hạ nhiệt.
Bà Helen Dickinson nói thêm rằng, tốc độ tăng giá lương thực chậm lại chủ yếu là do chi phí năng lượng và hàng hóa bắt đầu giảm qua các chuỗi cung ứng và giảm lạm phát đối với một số mặt hàng chủ lực bao gồm bơ, sữa, trái cây và cá. Nhưng giá sôcôla và cà phê tăng do chi phí toàn cầu cao đối với những mặt hàng này. Những điều này đã đẩy lạm phát đối với thực phẩm xung quanh – những mặt hàng có thể bảo quản ở nhiệt độ phòng – lên 13,1% trong tháng 5/2023, từ mức 12,9% của tháng trước.
Lạm phát lương thực ảnh hưởng nặng nề nhất đến các hộ gia đình nghèo nhất vì họ có xu hướng chi tiêu phần lớn ngân sách của mình cho các nhu yếu phẩm.
Mike Watkins, người đứng đầu bộ phận bán lẻ và kinh doanh tại NielsenIQ, công ty tổng hợp dữ liệu cho biết, để giảm thiểu chi phí sinh hoạt ngày càng tăng, người mua sắm đang tìm kiếm các chương trình khuyến mãi theo mùa và ưu đãi chương trình khách hàng thân thiết của siêu thị.
Dữ liệu do BRC cho biết, trong tháng 3, doanh số bán thực phẩm đã giảm 2,7% so với mức trước đại dịch COVID-19, do các hộ gia đình đã cắt giảm việc mua bán nhằm cân đối chi tiêu trong bối cảnh giá cả ngày càng leo thang.
BRC cũng cho biết, lạm phát giá các mặt hàng phi thực phẩm đã tăng từ mức 5,5% trong tháng 4 lên 5,8% trong tháng 5, mặc dù các cửa hàng giảm giá mạnh đối với các mặt hàng giày dép, sách và các sản phẩm giải trí gia đình.
Trước đó, theo công bố của Văn phòng Thống kê Quốc gia Anh (ONS), lạm phát của nước này trong tháng 4/2023 giảm mạnh xuống còn 8,7%, đây là mức thấp nhất kể từ tháng 3/2022, nhờ giá năng lượng giảm đáng kể so với cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, con số này vẫn còn xa vời so với mục tiêu kiềm chế lạm phát ở mức mục tiêu 2% của Ngân hàng trung ương Anh (BoE).
tygiausd.org
Tỷ giá USD/VND ngày 11/3: TGTT giảm 3 đồng xuống 25.059 – giá bán tại các NH giảm theo
02:00 PM 11/03
Vàng nhẫn phiên 10/3: Người dân xếp hàng chờ mua giấy – nhẫn trơn BTMC giá cao hơn cả vàng miếng
03:35 PM 10/03
Tỷ giá USD/VND ngày 10/3: Các NH nâng giá bán ra kịch trần nhưng lại giảm giá mua vào
11:15 AM 10/03
Tin sáng 10/3: Phố Wall đảo chiều ngoạn mục, Dầu thô rời đỉnh sau khi Tổng thống Trump phát tín hiệu xung đột sắp kết thúc
08:45 AM 10/03
Giá vàng miếng ngày 9/3: Mở cửa giảm 2,5 triệu rồi hồi phục nhẹ – Diễn biến rất khó lường
12:45 PM 09/03
TTCK phiên 31/5: VN-Index lùi bước, thanh khoản vẫn dồi dào
04:22 PM 31/05
Tỷ giá VND/USD 31/5: NHTM giữ đà tăng, TT tự lao ‘lao dốc’
12:47 PM 31/05
Nhận định TTCK phiên 31/5: Nên áp dụng chiến lược mua đón đầu ở các cổ phiếu chưa tăng hoặc đang điều chỉnh tạo nền tích lũy
08:12 AM 31/05
Châu Âu: Người dân được trả thêm tiền để sử dụng điện
03:27 PM 30/05
| Mua vào | Bán ra | |
|---|---|---|
USD chợ đen |
27,190 40 | 27,240 40 |
Giá đô hôm nay |
||
| Mua vào | Bán ra | |
|---|---|---|
| Vàng SJC | 184,2001,100 | 187,2001,100 |
| Vàng nhẫn | 184,2001,100 | 187,2301,100 |
Tỷ giá hôm nay |
||
|---|---|---|
| Ngoại Tệ | Mua vào | Bán Ra |
USD |
25,0840 | 25,4540 |
AUD |
16,2380 | 16,9280 |
CAD |
17,7270 | 18,4810 |
JPY |
1600 | 1700 |
EUR |
26,8480 | 28,3200 |
CHF |
28,5820 | 29,7970 |
GBP |
31,8310 | 33,1840 |
CNY |
3,4670 | 3,6140 |