Khảo sát biểu lãi suất niêm yết tại 34 ngân hàng trong nước, có tới 28 ngân hàng đã thay đổi biểu lãi suất. Trong đó, hầu hết đều giảm 0,5 điểm % tại các kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng xuống mức trần là 5%/năm và giữ nguyên các kỳ hạn dài.
Thậm chí nhiều ngân hàng còn giảm lãi suất cao nhất dành cho kỳ hạn từ 1 đến dưới 6 tháng xuống còn 4,5-4,8 điểm % như Ngân hàng Bản Việt, SeABank, LPBank, TPBank.
Đặc biệt, dù đã niêm yết dưới mức trần 5%, các ngân hàng khối quốc doanh vẫn tiếp tục giảm thêm 0,5 điểm % lãi suất huy động áp dụng cho các kỳ hạn từ 1 đến dưới 6 tháng xuống còn 4,1-4,6%/năm.
Bên cạnh các kỳ hạn dưới 6 tháng, một số ngân hàng cũng giảm thêm lãi suất huy động tại các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên.
Theo đó, Bao Viet Bank giảm 0,3-0,6 điểm % tại các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên. Tại các kỳ hạn này, Bac A Bank cũng giảm 0,4-0,5 điểm % từ ngày 25/5.
Techcombank giảm 0,4 điểm % tại các kỳ hạn dài, đưa mức lãi suất cao nhất về còn 7,2%/năm áp dụng cho khách hàng VIP1, với số tiền gửi tối thiểu 3 tỷ tại các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên.
Lãi suất huy động đã liên tục giảm mạnh kể từ tháng 2 đến nay, đặc biết là sau các đợt giảm lãi suất điều hành và trần lãi suất tiền gửi của NHNN. Trong khoảng 4 tháng vừa qua, lãi suất huy động tại các ngân hàng đã giảm 0,6-2 điểm % ở tất cả các kỳ hạn.
Hiện những ngân hàng có lãi suất cao nhất trên thị trường vẫn là các ngân hàng nhỏ như ABBank, VietABank, GPBank, VietABank…với lãi suất niêm yết cao nhất từ 8,5%/năm trở lên.
Chênh lệch lãi suất giữa các ngân hàng nhỏ và ngân hàng lớn hiện nay khá đáng kể. Điển hình như tại kỳ hạn 12 tháng, lãi suất của một số ngân hàng nhỏ là 8-8,8%/năm, trong khi đó những ngân hàng quốc doanh và tư nhân lớn chỉ 7,2-7,5%/năm.
Trước đó, Ngân hàng Nhà nước đã giảm lãi suất điều hành và trần lãi suất huy động ngắn hạn dưới 6 tháng thêm 0,5%. Đây là lần điều chỉnh lãi suất thứ 3 trong vòng 3 tháng qua nhằm góp phần hỗ trợ nền kinh tế, doanh nghiệp và người dân.
Ngân hàng Nhà nước cũng chỉ đạo các tổ chức tín dụng nỗ lực tối đa tiết giảm chi phí hoạt động, thủ tục hành chính, các khoản chi không cần thiết để có dư địa phấn đấu giảm lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất, kinh doanh.
Sáng nay (25/5), Ngân hàng Nhà nước cũng có buổi làm việc với các tổ chức tín dụng để cùng thảo luận về việc giảm lãi suất cho vay, lắng nghe các khó khăn của ngân hàng trong quá trình triển khai để tìm ra giải pháp phù hợp.
tygiausd.org
Tỷ giá USD/VND ngày 11/3: TGTT giảm 3 đồng xuống 25.059 – giá bán tại các NH giảm theo
02:00 PM 11/03
Vàng nhẫn phiên 10/3: Người dân xếp hàng chờ mua giấy – nhẫn trơn BTMC giá cao hơn cả vàng miếng
03:35 PM 10/03
Tỷ giá USD/VND ngày 10/3: Các NH nâng giá bán ra kịch trần nhưng lại giảm giá mua vào
11:15 AM 10/03
Tin sáng 10/3: Phố Wall đảo chiều ngoạn mục, Dầu thô rời đỉnh sau khi Tổng thống Trump phát tín hiệu xung đột sắp kết thúc
08:45 AM 10/03
Giá vàng miếng ngày 9/3: Mở cửa giảm 2,5 triệu rồi hồi phục nhẹ – Diễn biến rất khó lường
12:45 PM 09/03
Tỷ giá VND/USD 25/5: NHTM điều chỉnh thiếu nhất quán, tỷ giá trung tâm tăng thêm 12 đồng
12:12 PM 25/05
Hàn Quốc: Các nghị sỹ phải kê khai tài sản ảo
04:37 PM 24/05
Tỷ giá VND/USD 24/5: Tiếp đà tăng mạnh, đồng USD trong ngân hàng chạm mốc 23.670 VND/USD
12:07 PM 24/05
| Mua vào | Bán ra | |
|---|---|---|
USD chợ đen |
27,190 40 | 27,240 40 |
Giá đô hôm nay |
||
| Mua vào | Bán ra | |
|---|---|---|
| Vàng SJC | 184,200 | 187,200 |
| Vàng nhẫn | 184,200 | 187,230 |
Tỷ giá hôm nay |
||
|---|---|---|
| Ngoại Tệ | Mua vào | Bán Ra |
USD |
25,0840 | 25,4540 |
AUD |
16,2380 | 16,9280 |
CAD |
17,7270 | 18,4810 |
JPY |
1600 | 1700 |
EUR |
26,8480 | 28,3200 |
CHF |
28,5820 | 29,7970 |
GBP |
31,8310 | 33,1840 |
CNY |
3,4670 | 3,6140 |